no image

Sứ Mệnh

“Tạo cơ hội cho trẻ khiếm thị có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận nền giáo dục toàn diện và phù hợp, giúp trẻ phát triển hết tiềm năng, có được kiến thức và kỹ năng cần thiết để vươn lên vui sống tự lập và hòa nhập xã hội”



CHỮ BRAILLES VỚI CUỘC ĐỜI TÔI

CHỮ BRAILLES VỚI CUỘC ĐỜI TÔI

Mang theo vài cuốn sách chữ Brailles, một cái bảng và một dùi viết, tôi hớn hở hòa nhập với trường mới, bạn mới. Nhưng mọi việc không đơn giản như tôi nghĩ....

 

    Những tưởng cuộc sống sẽ yên bình trôi đi như một dòng sông phẳng lặng, những tưởng chỉ cần phấn đấu hai năm nữa thôi sẽ được bước chân vào cổng trường đại học mơ ước. Thế nhưng chuyện xảy đến làm thay đổi tất cả những suy nghĩ đó. Căn bệnh teo gai thần kinh thị giác làm thị lực cả hai mắt tôi giảm sút nghiêm trọng, buộc con đường học vấn của tôi phải ngừng lại ở lớp 10. Dẫu mọi việc diễn ra không quá đột ngột và bất ngờ, dẫu đã được dự báo trước về tình trạng mù lòa của đôi mắt nhưng sao với tôi, sự thật lại quá cay đắng thế này. Mắt tôi mờ dần và càng mờ nhanh hơn qua những đêm thức khuya học bài. Tôi đã không nhận ra được điều đó cho đến khi tôi biết mình viết sai đề kiểm tra của cô giáo ghi trên bảng. Có lần, tôi được gọi đứng lên đọc sách trước lớp, chỉ mới hai ba dòng thơ đầu mà tôi cũng không thể nào đọc trôi chảy được. Cô giáo tỏ vẻ khó hiểu và cho tôi ngồi xuống sau khi nghe một vài người bạn trong lớp giải thích rằng tôi mắt kém. Lúc đó, tôi biết mắt mình đã tệ lắm rồi. Và như một kẻ phạm lỗi, tôi im lặng cúi đầu, không nhìn lên bảng nữa để tránh ánh mắt đầy ái ngại của cô. Rồi lần khác làm rơi cây thước kẻ, tôi cũng không dám nhặt vì sợ, tôi sợ cái cảm giác ngượng nghịu khi hàng chục cặp mắt đều đổ dồn về phía tôi, họ bàn tán, chỉ trỏ vì hành động mò mẫm cây thước kẻ của tôi, tôi sợ mình bị biến thành một con rối đem ra cho người khác điều khiển mặc dù tôi biết, đó chỉ là cảm giác do bản thân tự nghĩ ra. Một buổi tối, vào giờ học thêm toán, dù đã ngồi ở bàn nhì và đeo kính nhưng tôi vẫn không sao nhìn thấy được những dòng phấn trắng trên bảng kia. Từ đầu năm học tới giờ, tôi học hành sa sút hẳn và ngày càng thụ động hơn xưa. Tôi tự hỏi: “Sao lại như vậy? Sao tôi lại rơi vào hoàn cảnh thế này? Có ai hiểu được nỗi bất hạnh của tôi không?”. Sự mặc cảm, tự ti đè nặng lên tâm trạng tôi bây giờ. Và tôi đã không kiềm được lòng mình, tôi khóc, hai hàng nước mắt tuôn dài trên má…

 

      Những ngày tháng của năm lớp 10 quả thật khó khăn và cực nhọc. Tuy vậy, tôi cũng đã cố gắng vượt qua bằng phần thị lực còn lại. Mùa hè năm 2010, tôi chia tay mái trường phổ thông, từ biệt thầy cô, bè bạn. Nhưng đó không phải là cuộc chia tay bình thường như bao mùa hè trước mà chia tay cho một chuyến đi xa, xa mãi vì có lẽ sẽ không còn được học tập cùng nhau nữa. Tôi rời quê, rời vòng tay gia đình để vào thành phố Hồ Chí Minh tìm thầy chữa bệnh theo mong muốn của cha mẹ. Còn nhớ ngày ra đi, có nhiều người thân họ hàng đến tiễn tôi. Ai cũng nhìn tôi vẻ thương cảm, họ chép miệng bảo nhau: “Thật tội nghiệp!”. Mẹ tôi bỗng bật khóc, bà nói trong nước mắt: “Nó bây giờ bỏ không rồi”. Nhiều người im lặng, vài người đếb vỗ vai an ủi mẹ tôi. Tôi nghe cổ họng mình đắng chát, lòng tôi chết lặng. Một nỗi tủi hờn dâng lên: Tôi đáng thương và tội nghiệp thế sao? Tôi không trách mẹ, bà không cố ý thốt ra lời nói đó làm tôi buồn. Tôi hiểu trong chuyện này, hơn ai hết, mẹ tôi là người đau lòng và thương tôi nhất. Có lẽ bà cũng giống như tôi lúc này, hoang mang cho tôi vì một tương lai không định hướng. Suy nghĩ của mẹ tôi hẳn cũng là suy nghĩ của rất nhiều người nơi miền quê tôi cả đời lam lũ. Chỉ là họ chưa nói ra những điều họ nghĩ, họ thấy về một số người mù mà họ biết: Người mù là người tàn phế, coi như bỏ đi. Và… tôi cũng không ngoại lệ.

 

       Đã gần một năm rưỡi trôi qua kể từ khi tôi xa nhà vào Nam chữa bệnh. Trong khoảng thời gian ấy, ngày nào tôi cũng rong ruổi trên những chuyến xe buýt đi hàng chục cây số để tìm tới nhà thầy thuốc. Chữa trị bằng tây y lại sang đông y, hết bác sĩ này rồi đến thầy lang nọ, thế nhưng tình trạng bệnh lí của tôi vẫn không có gì tiến triển khả quan. Tôi dần nhận ra một sự thật mà tôi không hề muốn chấp nhận nó chút nào, rằng tôi bị mù, rằng đôi mắt của tôi không có cách gì chữa khỏi. Đôi lúc ngồi trên xe buýt, tôi tự hỏi bản thân mình đang cố gắng để làm gì khi sự cố gắng không không còn hi vọng. Lờ mờ nhìn thấy mấy bạn học sinh, sinh viên cười đùa trên xe mà sao tôi thấy lạc lõng, cô đơn giữa dòng người xuôi ngược. Những lần về thăm quê, tôi rất sợ phải đối mặt với những lời hỏi thăm của người quen về bệnh tình của tôi, kể cả cha mẹ, người thân. Tôi thường nói dối và tìm cách lảng sang chuyện khác vì tôi sợ sự thương hại của họ. Dù tôi biết đó là sự quan tâm chân thành nhưng họ đâu hay đã vô tình chạm vào nỗi đau của tôi và tôi không muốn họ lo lắng thêm. Trở lại thành phố, tiếp tục điều trị, tôi vô cùng chán nản và mệt mỏi. Ngồi một mình trong phòng trọ, nghĩ đến bao yêu thương, kì vọng và cả sự khổ tâm của cha mẹ, nghĩ đến việc sẽ không thể đi học lại, nghĩ về những tháng ngày u ám sắp tới, tôi òa lên khóc nức nở như một đứa trẻ. Tôi phải làm gì đây? Chẳng lẽ tôi lại trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội ư? Cuộc sống với tôi bây giờ buồn tẻ và dường như không lối thoát. Tôi thật sự bế tắc và tuyệt vọng…

 

         Tưởng chừng như cánh cửa ước mơ và hi vọng đã khép lại, nhưng đúng như ai đó đã nói: Thượng đế đóng cánh cửa này của bạn thì sẽ mở ra cho bạn những cánh cửa khác. Một dịp rất tình cờ, tôi được giới thiệu đến mái ấm Thiên Ân, ngôi nhà dành cho người khiếm thị do thầy Nguyễn Quốc Phong làm chủ nhiệm. Và tôi đã vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước rất nhiều bằng khen và huy chương đạt được trong các kì thi trong nước và quốc tế của thầy và các anh chị khiếm thị ở đây. Sao họ lại có thể làm được những việc mà người bình thường chưa chắc đã làm được như vật nhỉ? Rồi thầy cho tôi xem chữ viết của người khiếm thị: chữ Brailles hay còn gọi là chữ nổi. À, chữ nổi mà trước đây đã có lần tôi nghe nói trên ti vi đây mà. Nó khác hoàn toàn so với tưởng tượng của tôi lúc bé. Nhớ lại hồi đó, tôi cứ nghĩ chữ nổi cũng giống như bảng chữ cái Tiếng Việt nhưng được làm nổi lên khỏi mặt giấy. Giờ mới tận mắt thấy, tận tay sờ chữ nổi thật. Cả bàn tay tôi chà chà trên sách, lòng thầm nghĩ: “Thú vị ghê! Chỉ toàn những chấm tròn cồm cộm, làm thế nào để học và đọc được nhỉ?”. Tôi không hiểu lắm nhưng trong tôi lóe lên tia hi vọng, chính bản thân tôi cũng không giải thích được cảm giác ấy của mình.

 

        Thế rồi, tôi chính thức trở thành một thành viên của đại gia đình Thiên Ân. Cùng với năm bạn nữa vừa mới vào trước tôi mấy tuần, tôi được thầy Phong dạy chữ nổi. Việc đầu tiên bao giờ cũng vậy, thầy nói về nguồn gốc của chữ nổi. Thầy kể cho tôi nghe về cuộc đời ông Louis Braille, cha đẻ của chữ Brailles. Tôi say sưa vào câu chuyện thầy kể, một câu chuyện có thật mang màu sắc cổ tích mà dám chắc rất ít người biết. Vì vào sau các bạn nên suốt cả hai tuần, thầy phải kèm riêng thêm cho tôi. Tôi thấy hơi lo, không biết có học được không nhưng tôi tự nhủ phải cố gắng lên. Những chấm nổi đầu tiên sao mà khó sờ quá! Thôi chết, lại trật hàng nữa rồi! Hai bàn tay đều đã ướt đẫm mồ hôi đến nỗi làm mờ cả trang sách mà tôi vẫn chưa biết là chữ gì. Thầy không mắng nhưng dặn tôi phải đọc được hết bài này mới được nghỉ giải lao gù đã có tiếng chuông kết thúc giờ học. Có hôm tôi còn ôm cả sách Brailles lên giường ngủ để mò. Hết tập đọc rồi lại phải tập viết. Cái dùi cứng thật, ngồi cả tiếng đồng hồ rồi mà bảng sáu chấm cũng không xong, lại còn sót chấm nữa chứ… Cuối cùng, giai đoạn khó khăn ban đầu cũng qua đi, tôi theo kịp các bạn và được học chung với mọi người. Lớp học chỉ có một thầy, sáu trò mà vui hết chỗ nói. Nhiều lần, cả lớp được một trận cười vỡ bụng vì cách giải thích từ độc đáo của thằng bạn. Thỉnh thoảng, thầy cho sáu đứa chúng tôi thi nhau xem ai đọc  viết nhanh nhất, viết chính tả đúng nhất. Tôi chợt nhớ về tuổi thơ, trẻ con phải học thuộc lòng 29 chữ cái tiếng Việt, học ghép vần và viết chính tả. Tôi mỉm cười vu vơ, không ngờ mình được bé lại.

 

        Từng ngày trôi qua, sống trong sự nuôi dạy của thầy cô, hòa đồng với tất cả anh chị em nơi đây, qua những buổi học chữ Brailles, tôi đã tìm lại được niềm vui sống và quên đi những lo âu, phiền muộn về khuyết tật bản thân. Cuộc sống của tôi dần bình yên và lạc quan trở lại. Tôi nhận ra mình còn may mắn hơn nhiều người khác. Những người bị khiếm thị bẩm sinh chưa một lần được biết bảy màu của sắc cầu vồng rực rỡ trong khi tôi có đến 17 năm để để nhìn thấy nụ cười hiền từ của mẹ và mái tóc pha sương của cha. Những bạn nhỏ khiếm thị mồ côi đang phải lang thang bán vé số, kiếm sống qua ngày, trong khi tôi không phải lo cái ăn cái mặc mà còn được học chữ Brailles để tiếp tục học lên lớp 11, 12. Đúng vậy, Hạnh phúc lớn nhất của tôi chính là lại được cắp sách tới trường. Nhờ có chữ Brailles làm hành trang, tôi cũng có thể đọc sách và ghi bài như bao học sinh bình thường khác nhưng theo ngôn ngữ riêng của người khiếm thị. Tôi tưởng tượng đến ngày tôi được đi học trở lại mà lòng ngập tràn vui sướng.

 

     Cái ngày tôi mong đợi nhất rồi cũng tới.  Mang theo vài cuốn sách chữ Brailles, một cái bảng và một dùi viết, tôi hớn hở hòa nhập với trường mới, bạn mới. Nhưng mọi việc không đơn giản như tôi nghĩ, tốc độ đọc ghi chữ nổi của tôi không làm sao đuổi kịp người sáng mắt, lại thêm vì không nhìn thấy bảng nên tôi chép bài không kịp. Tôi phải nhờ bạn bè ngồi xung quanh đọc giúp rồi ghi lại. Tôi để ý thấy trong lúc tôi đọc và viết chữ Brailles, tất cả mọi người đều chú ý tới tôi, tự dưng tôi trở thành tâm điểm của cả lớp. Và có điều khác lạ ở chỗ, cái cảm giác ngượng nghịu, xấu hổ của hơn hai năm về trước, giờ đây đã biến mất trong tôi. Tôi thích nhất là vào giờ ra chơi, bạn bè và cả thầy cô xúm lại vây quanh tôi để tìm hiểu thứ “ngôn ngữ” đặc biệt mà tôi đang sử dụng. Mọi người bảo nhau: “Giỏi quá ha! Chấm nào cũng giống nhau thế này mà sao bạn ấy học được heng!”. Tôi cười, đáp: “Học chữ nổi không khó lắm đâu”. Có đứa còn nài nỉ tôi dạy chữ nổi cho và tất nhiên, tôi vui vẻ nhận lời. Tự bao giờ, những cuộc trò chuyện như vậy đã giúp tôi bắt đầu quen biết và thân thiết với nhiều bạn trong lớp hơn dù chỉ là qua giọng nói. Brailles vô tình trở thành sợi dây vô hình nối kết tôi với mọi người lại gần nhau. Tôi nhận thấy sự thay đổi rõ rệt của bản thân, từng là một con bé rụt rè, mặc cảm và ngại giao tiếp, nay tôi trở nên tự nhiên và cởi mở hơn khi nói chuyện với người khác. Tôi không còn cảm thấy xấu hổ khi nhờ bạn bè đọc bài hộ hay nhặt giùm đồ vật rơi. Đáp lại, họ cũng giúp đỡ tôi một cách nhiệt tình. Sau mỗi lần kì kiểm tra, thi cử, Tôi thường được giáo viên xướng tên trước lớp vì đạt điểm cao , tôi được tuyên dương như một tấm gương vượt khó học tập để các bạn noi theo. Với những thành tích mà tôi đạt được bằng sự nỗ lực vươn lên, thầy cô, bạn bè ngày càng thương yêu và quý mến tôi hơn. Tôi hạnh phúc vì tôi biết tình cảm đó không phải là sự thương hại dành cho những người tàn tật, kém may mắn mà là sự cảm thông, chia sẻ và cả sự khâm phục, ngưỡng mộ nữa. Những người ở quê tôi cũng vật, họ đã dần thay đổi những định kiến về người khiếm thị nói riêng và người khuyết tật nói chung. Từ khi biết đọc viết chữ Brailles, từ khi được học tập hòa nhật cùng người sáng mắt, mỗi lần về quê, trong hành lí của tôi bao giờ cũng có sách và dụng cụ viết chữ Brailles kèm theo giấy khen và phiếu liên lạc do nhà trường cấp. Tôi đem chúng về để khoe với cha mẹ, làm cha mẹ vui lòng và yên tâm về tôi, Để chứng minh cho mọi người hiểu người mù vẫn có thể đi học, vẫn có thể làm được nhiều việt như người bình thường, họ không phải là kẻ vô dụng, bỏ đi. Sờ xem chữ Brailles, nhìn những điểm số trong phiếu liên lạc của tôi, nghe tôi kể những gì tôi được biết về thầy Phong, về những người khiếm thị, qua thông tin báo đài, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và trầm trồ khen ngợi. Tôi hài lòng như vừa làm được điều gì có ý nghĩa, còn cha mẹ tôi thì mỉm cười hạnh phúc, trong mắt họ ngời lên vẻ hãnh diện về đứa con gái bị khiếm thị của mình.

 

      Hai năm học miệt mài cứ thế trôi qua với bao khó khăn, thuận lợi. Có khi không theo kịp bài thầy cô giảng trên lớp, có khi phải mất rất nhiều thời gian để đọc hiểu hết một bài học trong sách giáo khoa, nhiều lúc tôi thấy nản chí. Nhưng tôi không được phép bỏ cuộc vì xung quanh tôi, có biết bao tấm gương đáng nể phục đã vượt lên số phận bằng ý chí và nghị lực phi thường. Không ở đâu xa, đó chính là thầy Phong, những anh chị khiếm thị  đang sống và học tập tại mái ấm Thiên Ân, Đó là ông Louis Braille, là những con người lao động bình thường nhưng rất đỗi phi thường mà tôi đọc được qua những trang sách chữ Brailles. Tất cả họ đều động viên tôi: Cố lên! Vì trên hành trình chinh phục bóng đêm, vươn tới tri thức, tôi không hề đơn độc. “Overcom darkness through education” có nghĩa là vượt qua bóng tối nhờ giáo dục, đó là tôn chỉ của chúng tôi, những người khiếm thị ở mái ấm Thiên Ân. Và chữ Brailles chính là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho giáo dục đối với người khiếm thị. Giảng đường đại học đang chờ tôi ở phía trước, ước mơ trở thành một cô sinh viên trường Đại học Sư Phạm khoa Giáo Dục Đặc Biệt không  xa. Tôi mơ có một ngày kia, tôi đến lớp, không bảng đen phấn trắng, tôi sẽ dạy đàn em nhỏ học chữ Brailles…

 

       Đến với chữ Brailles, cuộc đời tôi như chuyển sang bước ngoặt mới. Brailles đã, đang và sẽ luôn  đồng hành cùng tôi trong cuộc sống, trong học tập, trong công việc. Không chỉ vậy, nó còn gắn liền với những ước mơ, hi vọng và những kỉ niệm đẹp đẽ của tôi. Tuy hiện nay đã có nhiều phương tiện hiện đại hỗ trợ việc học tập cho người khiếm thị, thế nhưng tôi vẫn thích sử dụng chữ Brailles. Brailles chính là ánh sáng làm thay đổi cuộc đời tăm tối của tôi, của những người khiếm thị và chắp cánh cho những ước mơ của tôi trở thành hiện thực. giờ đây, nhìn lại đoạn đường đã đi qua có chữ Brailles làm bạn, tôi tự hào về những gì mình làm được. Dù biết những tháng ngày sắp tới vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng có chữ Brailles dẫn đường, tôi không sợ. Và tôi có thể tự tin nói với mọi người rằng: Tôi là người khiếm thị! Tôi không phải là gánh nặng cho gia đình và xã hội vì tôi biết vươn lên trong cuộc sống để trở thành người công dân có ích cho cộng đồng.

                                                                                                                               La Thị Mai Thu

Công ty Cổ phần Dệt may Thành Công